Chàng-Ngốc-Già mến chào các bạn,
Đợt rồi về Việt nam chơi, cả nhà mình ai cũng tăng cân, riêng mình nhiều nhất là 5 kí- lô, không thể tin được luôn 😂. Vì phải thú nhận rằng quá nhiều món ở Việt nam ngon và lôi cuốn. Mình cũng quan sát, hầu như các bạn (nhất là người Việt) ở nước ngoài về, thì ăn uống là một điều phải làm (a must).
Tuy vậy, với những người đã quen với thực phẩm có nguồn gốc, có kiểm định rõ ràng thì ăn uống ở Việt nam, ở những chỗ bình dân, luôn có một nỗi lo là “mình đang ăn/uống thứ gì đây?” nhưng rồi bị cám dỗ để tặc lưỡi “mà thôi không sao, lâu thiệt lâu mới ăn một lần”.
Nhưng khi chậm rãi nhìn lại, thì thực phẩm không an toàn có cái giá không hề rẻ. Ví dụ một ổ bánh mì lề đường giá 10k, nhưng giá thật sự là bao nhiêu?
Trong trường hợp là thực phẩm bẩn, ăn vào gây bệnh (ngay lập tức hoặc về sau), thì kinh tế học y tế có cái khái niệm “Cost of Illness - COI”.
Các chi phí bao gồm chi phí trực tiếp, gián tiếp, chi phí vô hình.
Trực tiếp thì chẳng hạn như thuốc men, viện phí, xét nghiệm, chi phí đi lại, chăm sóc; gián tiếp thì do nghỉ việc, làm việc kém hiệu quả, hoặc mất thu nhập tương lai (tử vong sớm); và chi phí vô hình là sự khổ sở, đau đớn, chất lượng cuộc sống bị giảm (có thể định lượng qua willingness-to-pay).
Ngoài ra, còn có chi phí cho những di chứng dài hạn, những bệnh trong tương lai, phổ biến như ung thư.
Các tổ chức như WHO, World Bank cũng có những nghiên cứu, thống kê về thiệt hại do thực phẩm không an toàn. Chỉ riêng về năng suất lao động bị thiệt hại ở các nước thu nhập thấp và trung bình cũng lên đến khoảng 100 tỷ usd/năm, nếu tính thêm chi phí y tế thì còn cao hơn nhiều.
Như vậy, giá của một ổ bánh mì hiện tại là 10k, nhưng trong trường hợp không an toàn, thì cần phải chiết khấu các chi phí trong tương lai về hiện tại. Chẳng hạn 20 năm sau, khi tính được chi phí do ổ bánh mì bẩn là 1tr, với mức chiết khấu 7%/năm, thì chi phí đó là 258k. Thành ra ổ bánh mì lên đến 268k.
Đây là cách ước tính những chi phí chưa/không thấy trước mắt của chuyện an toàn vệ sinh thực phẩm hay ô nhiễm môi trường. Nhiều người thấy chi phí rẻ trước mắt nhưng không hình dung hết tổng chi phí trong tương lai.
Ở một góc nhìn khác, việc không thực hiện một việc nào đó cũng có những “chi phí” của nó. Ví dụ việc rèn luyện sức khỏe, ngủ nghỉ đủ giấc. Hiện tại không quan tâm thì sau này sức khỏe giảm hơn, có những chi phí phát sinh đi kèm. Có những việc nếu không chi ra bây giờ, thì sau này chi phí gán chịu sẽ lớn hơn.
Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng hạn chế về tài chính hay cái nghèo cũng dẫn đến những quyết định không thông minh, vì họ bị sức ép ngắn hạn trước mắt. Nhưng nếu chịu khó thì nó lại ló cái khôn, dành thời gian tìm hiểu những sản phẩm thay thế chất lượng hơn với chi phí tương tự. Ví dụ như chuyện ăn uống, thực phẩm có protein cũng có nhiều nhóm, nhiều loại khác nhau.
Quay lại tình hình kinh-tài thì trong nước như mình có chia sẻ trong livestream hôm 12/8, dân gửi tiền nhiều nhưng chủ yếu là ngắn hạn, trong khi nhu cầu tín dụng là trung dài hạn. Đến cuối tháng 6/2026, số dư tiền gửi của dân lên đến 11 triệu tỷ đồng (cỡ 420 tỷ usd), nếu tính luôn cả các tổ chức kinh tế là 17,4 triệu tỷ đồng.
Giai đoạn này phải tính toán rất kỹ chuyện vay vốn ngân hàng, thị trường chứng khoán trong nước thì mình chưa thấy có yếu tố thuận lợi, nếu có dư dả thì vẫn nên tạm chốt gửi có kì hạn và chờ thêm diễn biến mới.
Trong khi đó thì chứng khoán Mỹ vẫn tiếp tục lập đỉnh mới (SP500 lên gần 7800) trong sự hoài nghi của nhiều người. Thánh short Michael Burry tiếp tục mở rộng vị thế short, 1 số trader, nhà phân tích cũng theo chiều hướng này khi lo lại AI và các nhà đầu tư vào cổ phiếu AI đã dùng đòn bẩy quá nhiều, đã vậy thị trường còn đưa ra thêm nhiều hàng cháy nổ, ETF mà leverage lên 3 lần.
—
Tuần rồi có 2 bài cũng thú vị trên PS đó là về Chu Dung Cơ (mới mất) và phân tích chế độ toàn trị của TQ.
Tuần rồi TBT Chủ tịch nước đi thăm Úc và New Zealand, có 1 số thông tin về quan hệ Việtnam-Úc (từ các nguồn public):
Mặc dù xét về quy mô kinh tế, nguồn lực và vị thế, Việt Nam cần Australia nhiều hơn ở một số lĩnh vực (ODA, giáo dục, công nghệ, thị trường xuất khẩu nông sản…), Australia vẫn coi Việt Nam là đối tác then chốt vì những lý do thực tế sau:
1. Lợi ích chiến lược trong Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương
1.1 Việt Nam là quốc gia có vị trí địa chiến lược quan trọng ở Biển Đông, có đường bờ biển dài và vai trò ngày càng lớn trong ASEAN. Australia và Việt Nam chia sẻ tầm nhìn chung về một khu vực hòa bình, ổn định, thịnh vượng, tôn trọng chủ quyền và luật pháp quốc tế (đặc biệt là UNCLOS)
1.2 Trong bối cảnh cạnh tranh cường quốc gia tăng, Australia muốn đa dạng hóa quan hệ với các nước Đông Nam Á để giảm phụ thuộc quá mức vào một số đối tác lớn, đồng thời củng cố “ASEAN centrality”. Việt Nam được xem là “trụ cột” hoặc đối tác quan trọng trong chiến lược Đông Nam Á của Australia (Invested: Australia’s Southeast Asia Economic Strategy to 2040).
1.3 Hợp tác quốc phòng – an ninh (đào tạo sĩ quan, gìn giữ hòa bình, an ninh hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, chia sẻ thông tin…) giúp Australia tăng cường hiện diện và năng lực thực tế ở khu vực mà không đòi hỏi Việt Nam phải “chọn phe” theo kiểu liên minh cứng. Australia coi Việt Nam là đối tác quốc phòng quan trọng vì sự tin cậy chiến lược lẫn nhau giữa hai “middle powers”.
2. Lợi ích kinh tế và đa dạng hóa chuỗi cung ứng
2.1 Thương mại hai chiều tăng nhanh (khoảng 30 tỷ AUD hàng hóa và dịch vụ năm 2025 theo số liệu Australia), Việt Nam là một trong những đối tác thương mại tăng trưởng nhanh nhất của Australia ở Đông Nam Á. Australia xuất khẩu nông sản, năng lượng, giáo dục, khoáng sản… sang Việt Nam, trong khi nhập khẩu hàng công nghiệp, điện tử, dệt may.
2.2 Việt Nam có nền kinh tế tăng trưởng nhanh, tầng lớp trung lưu mở rộng, môi trường chính trị tương đối ổn định → thị trường hấp dẫn và đối tác để Australia giảm phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc, đa dạng hóa chuỗi cung ứng (đặc biệt năng lượng sạch, khoáng sản chiến lược, sản xuất tiên tiến).
2.3 Hai bên bổ sung lẫn nhau hơn là cạnh tranh trực tiếp, và đều tham gia các FTA quan trọng (CPTPP, RCEP, AANZFTA).
3. Giáo dục, con người và ảnh hưởng mềm (soft power)
3.1 Việt Nam là một trong những nguồn sinh viên quốc tế lớn nhất của Australia (hàng chục nghìn sinh viên mỗi năm, cộng đồng cựu sinh viên lớn). Đây là nguồn thu quan trọng cho ngành giáo dục Australia và tạo mạng lưới ảnh hưởng lâu dài.
3.2 Hợp tác khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu và năng lượng sạch cũng ngày càng được đẩy mạnh.
4. Tính bổ sung và tin cậy: 2 nước đều là “middle powers” có lợi ích chung trong việc duy trì không gian tự chủ cho các nước vừa và nhỏ, tránh bị chi phối bởi một cường quốc duy nhất. Australia không đặt Việt Nam vào vị thế “phụ thuộc”, mà coi quan hệ là đôi bên cùng có lợi và giúp Australia thực hiện chiến lược khu vực thực tế hơn.
Như vậy có thể thấy Australia xem Việt Nam là đối tác quan trọng vì lợi ích chiến lược, kinh tế và khu vực của chính Australia, chứ không phải chỉ vì “giúp đỡ” một chiều.
Quan hệ hai bên đã được nâng lên Đối tác Chiến lược Toàn diện (Comprehensive Strategic Partnership – CSP) từ tháng 3/2024, và tiếp tục được làm sâu hơn (ví dụ các thỏa thuận mới về quốc phòng – an ninh và kinh tế trong chuyến thăm của lãnh đạo Việt Nam đang diễn ra).
Và vì sao Việt Nam cũng cần thắt chặt quan hệ với Úc:
Australia đóng vai trò trung gian (middle power) chiến lược quan trọng trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, với vị thế “cân bằng” (straddle/hedging) giữa liên minh an ninh chặt chẽ với Mỹ (và phương Tây/EU) và quan hệ kinh tế sâu rộng với Trung Quốc
Cũng như Vietnam, Úc theo đuổi chính sách “đa dạng hóa quan hệ”, không chọn 1 bên duy nhất nhưng hơn Vietnam ở “tự chủ chiến lược”.
1. Với Mỹ, Úc là đồng minh an ninh cốt lõi
Australia là đồng minh lâu đời và tin cậy nhất của Mỹ ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (liên minh ANZUS hơn 75 năm). Mỹ là đối tác chiến lược chính, nhà đầu tư lớn nhất và trụ cột an ninh.
+ AUKUS (2021, với Anh): Cung cấp tàu ngầm hạt nhân và công nghệ quốc phòng tiên tiến. Đến 2025-2026, thỏa thuận vẫn được duy trì và thúc đẩy dù có sự xem xét dưới chính quyền Trump; Mỹ và Australia cũng tăng cường hợp tác sản xuất quốc phòng và triển khai lực lượng.
+ Quad (Australia - Mỹ - Nhật - Ấn): Tập trung vào an ninh hàng hải, nhận thức miền biển, chuỗi cung ứng và khoáng sản chiến lược. Năm 2025-2026, nhóm này đẩy mạnh Sáng kiến Khoáng sản quan trọng (Critical Minerals) nhằm giảm phụ thuộc vào Trung Quốc.
+ Hợp tác quốc phòng, tình báo (Five Eyes) và công nghệ rất sâu. Năm 2025, hai bên ký thỏa thuận khung về khoáng sản quan trọng và đất hiếm (trị giá hàng tỷ USD đầu tư chung), nhằm xây dựng chuỗi cung ứng tin cậy.
+ Dù vậy, dưới thời Trump (nhiệm kỳ thứ hai), niềm tin công chúng Australia đối với Mỹ giảm mạnh do thuế quan và tính bất định chính sách. Chính phủ Albanese vẫn giữ liên minh làm trung tâm nhưng nhấn mạnh “tự chủ hơn” và đa dạng hóa quan hệ để giảm rủi ro.
+ Chiến lược Quốc phòng 2026 của Australia nhấn mạnh đóng góp vào “cân bằng quyền lực thuận lợi” ở khu vực, với liên minh Mỹ là yếu tố then chốt.
2. Với EU, Úc là đối tác giá trị chung và đa dạng hóa kinh tế.
EU là đối tác ngày càng quan trọng về kinh tế, giá trị dân chủ, khí hậu và an ninh.
+ Tháng 3/2026, Australia và EU kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do (A-EU FTA) sau nhiều năm. Thỏa thuận sẽ loại bỏ phần lớn thuế quan (khoảng 98% giá trị xuất khẩu của Australia vào EU miễn thuế), mở cửa thị trường nông sản, hàng hóa chế tạo và dịch vụ, đồng thời tăng cường hợp tác về khoáng sản quan trọng, chuỗi cung ứng và an ninh.
+ Hai bên cũng có quan hệ đối tác an ninh - quốc phòng. Đây là bước quan trọng giúp Australia giảm phụ thuộc thương mại vào Trung Quốc và Mỹ, đồng thời gắn kết với một khối chia sẻ giá trị về trật tự dựa trên luật lệ.
+ EU là thị trường lớn (khoảng 450 triệu người), nguồn đầu tư lớn thứ hai của Australia, và quan hệ này được xem là trụ cột trong chiến lược “đa dạng hóa”.
3. Còn với TQ, là đối tác kinh tế lớn nhất, cũng là đối thủ chiến lược.
Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Australia (chiếm hơn 1/3 xuất khẩu, đặc biệt quặng sắt, than, nông sản, giáo dục). Quan hệ kinh tế gắn kết sâu, dù đã trải qua giai đoạn căng thẳng mạnh (2018-2022) với các biện pháp hạn chế thương mại từ Bắc Kinh.
+ Chính phủ Albanese theo đuổi chính sách “ổn định hóa” rồi “gắn kết chọn lọc”: Thủ tướng thăm Trung Quốc (2023 và 2025), Trung Quốc gỡ bỏ hầu hết rào cản thương mại. Australia muốn “làm ăn nhiều hơn, không ít hơn” với Trung Quốc.
+ Về an ninh: Australia lo ngại hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, Thái Bình Dương (ảnh hưởng đến các đảo quốc), hoạt động quân sự gần lãnh thổ Australia, và nỗ lực thay đổi cân bằng quyền lực khu vực. Canberra phản đối các hành động cưỡng ép và ủng hộ trật tự dựa trên luật lệ, đồng thời tăng cường quan hệ với các nước Thái Bình Dương và Đông Nam Á để hạn chế ảnh hưởng Trung Quốc.
+ Công chúng Australia vẫn phân hóa: khoảng nửa xem Trung Quốc là đối tác kinh tế, nửa xem là mối đe dọa an ninh; niềm tin vào Trung Quốc vẫn thấp.
Vị thế của Úc là đứng giữa, cố gắng cân bằng nhưng vẫn củng cố vị thế của mình trong khu vực. Và Việt Nam cần một người bạn như vậy.
Mến chúc các bạn nhiều sức khỏe, hẹn ở insight tuần sau !
CNG.

